Giấy khai sinh có thể cấp lại tại nơi thường trú mới

Bạn đọc hỏi: Tôi bị mất Giấy khai sinh và hiện không còn bản sao nào. Gia đình tôi cũng đã chuyển vào Nam sinh sống từ lâu nên tôi muốn xin cấp lại giấy khai sinh ở nơi ở mới được không? Huỳnh Thị Bé (Long An)

Sau khi xác minh kiểm tra hồ sơ, cán bộ hộ tịch sẽ thực hiện cấp lại Giấy khai sinh (Ảnh minh họa)

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại Nghị định 123/2015/NĐ-CP: “Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 1-1-2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại. Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại. Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ”.

Về thẩm quyền đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử thì “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh, kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn”. Như vậy là khi bạn đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 24 – Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì nộp 1 bộ Hồ sơ đăng ký lại khai sinh và đến Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bạn thường trú để thực hiện việc đăng ký lại khai sinh.

Thủ tục đăng ký lại khai sinh được thực hiện theo quy định tại Điều 26 – Nghị định 123/2015/NĐ-CP, hồ sơ bao gồm các giấy tờ: Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác, trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó; Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ theo quy định tại điểm a và điểm b, khoản này phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha – con, mẹ – con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

Nếu việc đăng ký lại khai sinh thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký lại khai sinh như trình tự quy định tại khoản 2, Điều 16 – Luật Hộ tịch 2014.

Còn nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Ngoài ra, khoản 4, Điều 26 – Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định trường hợp người yêu cầu có bản sao Giấy khai sinh trước đây được cấp hợp lệ thì nội dung đăng ký khai sinh được ghi theo nội dung bản sao Giấy khai sinh; phần khai về cha, mẹ được ghi theo thời điểm đăng ký lại khai sinh.

Tiếp đến, khoản 5, Điều 26 cũng quy định, nếu người yêu cầu không có bản sao Giấy khai sinh nhưng hồ sơ, giấy tờ cá nhân có sự thống nhất về nội dung khai sinh thì đăng ký lại theo nội dung đó. Trường hợp hồ sơ, giấy tờ không thống nhất về nội dung khai sinh thì nội dung khai sinh được xác định theo hồ sơ, giấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp chính thức hợp lệ đầu tiên.

  • Phạt nặng người ép người khác uống rượu bia liệu có khả thi?
  • Từ hôm nay 15/10, bán hàng đa cấp thu lợi bất chính sẽ bị phạt tới 200 triệu đồng

Vitimes.TODAY https://vitimes.today/images/vitimes_logo.png
4 stars - "Vitimes.TODAY" Vitimes.TODAY
Top